8h - 20h : Thứ 2 - CN

Lịch sử phát triển của xe đạp

Lịch sử phát triển của xe đạp

Xe đạp là phương tiện giao thông rất phổ biến trên toàn thế giới, nó cũng có lịch sử phát triển lâu đời, để trở thành phương tiện hoàn thiện như hiện nay thì nó đã trải qua một lịch sử phát triển với hàng loạt cải tiến của các nhà phát minh.
Năm 1817: Xe đạp đầu tiên được khai sinh – cổ máy đi bộ của Drais
Năm 1817, nam tước người Đức Baron von Drais -tưởng tượng ra xemang tên ông, xe Draisienne- được xem là tổ tiên của xe đạp.Ngược  với xe tưởng tượng  célérifère, xe này có bánh xe trước dùng để lái, và làm hoàn toàn bằng gỗ nó có tên là Laufmaschine( tiếng Đức có nghĩa là cỗ máy chạy bằng chân) .  Trong lần sử dụng đầu tiên vào ngày 12 tháng 6 năm 1817, ông đã đi được đoạn đường 13 km mà chỉ mất khoảng 1 giờ đồng hồ.

lich-su-xe-dap-21-1a

Ông được cấp bằng sáng chế thương mại cho phát minh này vào năm 1818. Hàng nghìn chiếc đã được sản xuất chủ yếu tại thị trường Tây Âu và Bắc Mỹ nhưng vẫn còn một khuyết điểm là rất khó để có thể giữ thăng bằng khi điều khiển. Phát minh của Drais nhanh chóng bị người sử dụng từ chối do số lượng các vụ tai nạn ngày càng nhiều khiến chính quyền một số thành phố phải cấm sử dụng loại phương tiện này.
Những năm 1860: Chiếc xe Boneshaker hay Velocipede, xe có bàn đạp xuất hiện
Chiếc xe được cải tiến từ ý tưởng Laufmaschine của Drais nhưng được trang bị thêm trục khuỷu và bàn đạp lắp trực tiếp vào trục bánh xe trước. Mô hình này được Pierre Michaux – một nhà phát minh người Pháp, giới thiệu vào những năm 1865 với tên gọi là Fast-Foot và gây nên một cơn sốt khi mọi người đua nhau sở hữu. Thời bấy giờ, người ta còn đặt cho nó một tên gọi khác là xe lắc xương (Boneshaker). Boneshaker bắt nguồn từ việc bánh xe được làm bằng gỗ trong khi viền bánh xe được chế tạo từ kim loại, việc chạy xe trên những con đường gồ ghề trở nên cực kỳ khó chịu, dằng xóc giống như vừa đi vừa “lắc xương”. Cũng chính vì lí do nêu trên mà Boneshaker trong giai đoạn này vẫn chưa được phổ biến rộng rãi.

lich-su-xe-dap-21-1b

Những năm 1870: Xe đạp bánh cao (The High Wheel Bicycle)
Năm 1870, người Anh J. Starley chế ra Ariel; xe đạp bằng thép nguyên chiếc đầu tiên, với các bánh xe có căm xe căng và có cao su xung quanh niền xe. Nhưng cũng y như xe vélocipède, xe này cũng dùng bánh xe trước để lái và đạp, còn bánh sau chỉ để mang trọng lượng cơ thể. Xe đạp lúc bấy giờ cũng còn chạy khó khăn: lái bằng bánh trước, khi cua phải hay trái, phải dùng pédale đưa xe hướng theo ý mình, thành ra bất tiện, lại nữa mỗi khi muốn xuống xe, phải nhảy từ yên xe xuống, chỉ những người cao hơn 1,5m mới có thể dùng Sau đó, nhiều phát triển khác đã nảy sinh thí dụ: xe đạp ba bánh dành cho phụ nữ mặc váy “ladytrik”, hay bàn đạp xe được đặt ở bánh sau để giảm bớt độ nguy hiểm cuả việc dùng bánh trước quá lớn (sản xuất và dùng ở Washington, DC) tên là “high-wheel safety bicycles”

lich-su-xe-dap-21-1c
Năm 1879, Bayliss Thomas phát minh xe đạp “The Bayliss Thomas” với khung xe chế tạo bằng những ống thép rỗng ruột và được trang bị phuộc trước. Cùng thời gian đó, nhà phát minh người Anh là Harry John Lawson chế tạo mẫu xe đạp đầu tiên có sử dụng dây sên. Dây sên được nối giữa dĩa ở trục bánh sau với bàn đạp của người điều khiển. Mẫu xe này được gọi là xe đạp an toàn. Đây là tiền thân của chiếc xe đạp ngày nay.

Những năm 1880 – 1899: giai đoạn hoàng kim
Năm 1880, xe hai bánh -bicyclette, bicycle [bi=2, cycle = bánh xe]- được ra đời. Ông Meyer phát minh bộ bàn đạp và dùng dây xích (phát minh của ông Galle) Hệ thống bộ bàn đạp, dây sên và pignon cho phép truyền sức con ngưới nơi bánh xe sau chớ không như trước nữa, bởi vì bánh xe trước dùng để làm nhiệm vụ lái. Khi dùng các kích thước khác nhau của pignon và bộ bàn đạp, xe có thể chạy nhanh mà không cấn có bánh xe lớn nữa. Xe grand-bi vị bỏ rơi và người ta dùng xe bicyclette.
Pignon sau có 20 răng, bàn đạp có 40 răng, thì dây sên sẽ truyền 1 vòng pédalier và bánh xe quay hai vòng Pédalier gồm một mâm răng cưa và 2 manivelle đặt đối diện nhau và được gắn pédale vào, nó được gắn vào khung xe nhờ trung gian những viên bi thép nhỏ để trục bớt bị mòn. Dây sên truyền sức vô pignon của bánh xe sau. Xe đạp trông giống hiện nhay nhưng bánh xe vẫn còn gắn cố định
Năm 1888 thì một người cựu chiến binh Ái Nhĩ Lan (Irish) John Dunlop đã phát minh ra bánh bơm hơi cho xe đạp (pneumatic tires) — Việc phát minh ra bánh xe bơm hơi (không dùng cho xe đạp) đã có từ trước đó vào 1844 bởi Charles Goodyear — (Nghề sưã bánh xe đạp/gắn máy chắc cũng bắt đầu từ đây và ông tổ là Dunlop!)
Trong thập niên 1890 thì xuất hiện hệ thống thắng xe đạp hoàn chỉnh có càng thắng (hình càng cua) và gôm thắng dưạ trên nguyên lí lực ma sát để giảm tốc cho xe đạp. Lực truyền động từ tay thắng (lever) được chuyền thông qua 1 dây cáp bằng thép.
Năm 1898 Sachs phát minh bánh xe tự do (thuỷ tổ cuả cái “líp” xe đạp). Bánh xe tự do không bó buộc người cỡi xe phải đạp liên tục ngay cả khi xuống dốc. Bánh xe sau được pédalier kéo nhưng nó không kéo theo pédalier. Pignon răng cưa được gắn ở bánh xe sau bằng một “bánh xe có móc”. Trục của bánh xe gồm các cliquets tạo cho bánh xe được tự do quay tròn trong một hướng và cố định với hướng ngược lại.
Thế kỷ thứ 20, với phát minh cái dérailleur, đã cho phép ta có hộp vận tốc cho xe đạp. Nó cho phép thay đổi pignon hay mâm răng cưa (bằng cách chuyển dây sên) để thích hợp với tuyến đường của người cỡi xe Xe đua phải chạy theo kim đồng hồ, chạy xé gió, nên sức cản không khí và trọng lượng phải tối thiểu. Để đạt đòi hỏi trên, kim loại dùng cho loại xe đặc biệt này sẽ là những kim loại mới khám phá ra hay những hợp kim nhẹ (titane, sợi carbon…)
Và hiện nay nó được xem như một phương tiện chuyên chở không gây ô nhiễm môi trường tại làng xã và ngay cả trong các thành phố lớn, để bớt ô nhiễm, người ta đã khuyến khích một ngày đi xe đạp: xe dap giant, xe dap dia hinh, xe dap tre em

Lịch sử phát triển của xe đạp
Đánh giá của bạn

Tin Tức Liên Quan

Tư vấn
Địa điểm